settingsshare

Nghìn Kế Tương Tư Chương 2: Giang Nam đấu pháp (2)

Trên mặt hồ vọng lại tiếng mắng của Yên Nhiên: “Tự mình xông vào, còn trách ai? Tiểu thư nhà ta mang rượu ngon đãi ngươi, ngươi lại nói là tiểu thư hạ độc? Chó cắn Lã Ðộng Tân không biết lòng người tốt! Thà đốt lều cỏ còn hơn để chủ tớ nhà ngươi có chỗ tránh mưa! Ðáng đời các ngươi bị ướt như chuột lột!”.

Chủ tớ Ðỗ Hân Ngôn im lặng đứng dưới rừng mai trong màn mưa, mặc cho mưa rơi ướt áo.

Tín Nhi nhìn theo con thuyền nhỏ đang dần mất hút, rụt cổ run lên vì rét, nghi ngờ hỏi: “Công tử, có thật là đại tiểu thư nhà họ Thẩm không? Cũng lạ thật đấy, chưa đầy nửa năm mà đã gặp Thẩm tiểu thư đến bốn lần? Ra khỏi kinh thành cũng vẫn còn gặp, chẳng lẽ lại trùng hợp thế sao?”.

Ðỗ Hân Ngôn nhìn theo con thuyền nhỏ, lim dim mắt.

Mỗi khi tâm trạng không vui, chàng lại có hành động này. Ðứng nhìn Tín Nhi đang run lên vì rét, Ðỗ Hân Ngôn nghĩ, gặp phải Thẩm Tiếu Phi thật là xúi quẩy.

Chiếc thuyền mất hút giữa mênh mang khói nước, bỗng Ðỗ Hân Ngôn chạy lại chỗ lều cỏ, vội vàng tìm trong đám tro tàn, cuối cùng tìm được chiếc bình gốm màu đen, bên trong đã đầy những tro bụi. Ðỗ Hân Ngôn thò tay vào trong, lấy ra một chút bụi tro ướt, đưa lên mũi ngửi, vẻ mặt bỗng kỳ quái khác thường.

Trên thuyền, Tiếu Phi mỉm cười nhìn mặt hồ sương khói.

Yên Nhiên vẫn chưa hết bực mình, phùng má nói: “Hừ, hắn ta dám đề thơ nói tiểu thư không bằng Ðinh Thiển Hà! Ướt như chuột lột cũng thật là đáng đời. Hôm nay rượu ngon không hạ độc cũng là dễ dàng cho hắn rồi!”.

Vô Song bình tĩnh nói: “Ðỗ Hân Ngôn là cao đồ của Thiên Trì lão nhân, nếu đã nghi ngờ thì không dễ dàng mắc bẫy đâu”.

Dường như Tiếu Phi không nghe hai người nói, mắt vẫn mơ màng nhìn ra sông nước mênh mang.

Mặt hồ lãng đãng hơi sương, hai bên bờ núi xanh như chấm mực, văng vẳng đâu đây tiếng tiêu trên núi Lạc Phong, kỳ ảo mà thanh thản, bỏ lại phía sau những giàu sang quyền thế, những toan tính trong lòng, chỉ có tự do khoái hoạt. Nàng đứng yên đó, chiếc ô bằng giấy dầu không ngăn được mưa mù, áo choàng dày đã thấm ướt. Bờ hồ đã xa mờ, nhưng Tiếu Phi lại thấy dưới tán mai kia một bóng áo xanh mỉm cười với nàng.

Dương Châu là vùng sông đổ ra biển, là nơi Trường Giang, Hoài Hà hội tụ. Giang Nam cá gạo nhiều vô kể, gạo tiến cống hàng năm đều từ Dương Châu theo đường thủy vận chuyển đến kinh thành. Triều đình đã đặt ty lương vận đạo Giang Nam ở Dương Châu, trực thuộc sự quản lý của bộ Hộ. Vì nằm trong địa giới của đạo Giang Nam, nên cũng thuộc quyền quản lý của đốc phủ đạo Giang Nam.

Ðỗ Hân Ngôn điều tra vụ án này, tất nhiên phải đến ty lương vận Giang Nam ở Dương Châu.

Nhưng chàng không đến ty lương vận ngay. Sau chỉ dụ của Minh đế, những nhân vật cốt cán của bộ Hộ và nha môn đốc phủ đạo Giang Nam đã điều tra ty lương vận trên dưới một lượt. Từ thu gom gạo nhập kho, chất hàng xuống thuyền, mỗi khâu đều đã được tra xét cẩn thận kỹ càng. Từ lúc xảy ra vụ án cho tới lúc Ðỗ Hân Ngôn nhận lệnh của Minh đế đến Giang Nam điều tra đã nửa tháng trôi qua, cả bộ Hộ và nha môn đốc phủ Giang Nam đều chưa có bất cứ tin tức gì.

Ðỗ Hân Ngôn đã đến ty lương vận ở kinh thành để tìm hiểu mọi chi tiết của việc gạo tiến cống vào bờ đến khi nhập kho, được biết ty lương khố kiểm tra chất lượng lương thảo khi nhận lương theo kiểu kiểm tra ngẫu nhiên, lấy que sắt chọc thủng bao đay bất kỳ để xem chất lượng gạo. Chỉ cần một chút lơ là của quan viên, gạo cũ gạo mốc để dưới đáy thuyền có thể dễ dàng lọt qua. Nếu tất cả các khâu thu gom lương thực, nhập kho đóng thuyền của ty lương vận Giang Nam đều theo đúng trình tự và đảm bảo chất lượng, thì vấn đề chính là khâu vận chuyển lương thực trên đường đi.

Ðường thủy từ Dương Châu đến kinh thành có rất nhiều sông nhánh, sông ngòi hồ bến chằng chịt. Ðỗ Hân Ngôn nghi ngờ số gạo tiến cống bị tráo ngay trên đường vận chuyển. Chàng nghiên cứu bản đồ, suy tính về hành trình vận chuyển lương thực, ánh mắt dừng lại ở nơi có tên là bãi Ðá Ðen.

Ðịa hình của bãi Ðá Ðen giống như một cây nhân sâm, từ dòng chính phân thành các dòng nhánh, từ các dòng nhánh lại phân tiếp thành những sông lớn ngòi nhỏ, mạng lưới phân bố giống như rễ chùm của cây nhân sâm, đường thủy ngoằn ngoèo như mê cung, giữa lại có bốn năm cái hồ nhỏ, thật là nơi ẩn mình tuyệt vời của đám thủy tặc.

Vừa hay Ðỗ Hân Ngôn lại có một bằng hữu trên giang hồ là Vệ Tử Hạo, Ðỗ Hân Ngôn đã từng nghe Vệ Tử Hạo nói bãi Ðá Ðen chính là nơi Tào bang, đệ nhất bang phái trên sông nước ở đạo Giang Nam chiếm lĩnh, trong lòng lại thêm vài lần chắc chắn.

Giang hồ có những quy tắc của giang hồ. Người trong giang hồ nếu nhúng tay vào việc của triều đình thì không thể chỉ dựa theo những quy tắc trên giang hồ. Ðỗ Hân Ngôn ngẫm nghĩ hồi lâu, dự định đích thân đi một chuyến đến bãi Ðá Ðen của Tào bang để nắm tình hình.

Phóng tầm mắt ra xa, bãi Ðá Ðen đường thuỷ ngang dọc, chim chóc bay lượn, lau sậy um tùm rậm rạp như chưa từng có sự hiện diện của con người.

Bên sông trơ trọi một quán trà, trên bếp có một ấm trà to, một nồi hấp bánh màn thầu. Trong quán có hai cái bàn vuông. Một ông cụ gầy còm mặc chiếc áo ngắn màu xám đang ngồi bên bếp xào rau, thấy có khách đến, liền vội vã phủi tay đứng dậy.

Ðỗ Hân Ngôn ngồi xuống, xếp những ly trà trên bàn thành hình chữ phẩm.

“Khách quan còn đợi ai à?”. Ông già thấy họ chỉ có hai người, thắc mắc hỏi.

Ðỗ Hân Ngôn mỉm cười: “Ðợi người, đợi một viên đá đen ở bãi Ðá Ðen”.

“Xin hỏi quý tính của công tử?”.

Ðỗ Hân Ngôn lấy đũa chấm vào nước chè rồi vẽ lên bàn một thanh kiếm, mũi kiếm cong cong như vầng trăng, chính là ký hiệu của Vệ Tử Hạo.

Ông già nở nụ cười, chắp tay nói: “Hóa ra là Vệ thiếu hiệp, nghe danh đã lâu”.

Ông già lấy ra một cây tiêu trúc nhỏ, dài một tấc, màu xanh biếc dễ thương, hướng về phía bãi lau thổi, nghe như tiếng của bầy chim lội nước đang ở đâu đây, chẳng bao lâu, từ trong bãi lau sậy xuất hiện một con thuyền nhỏ.

Ðỗ Hân Ngôn và Tín Nhi đang định lên thuyền thì ông lão cười giả lả ngăn lại: “Mời Vệ thiếu hiệp lên thuyền một mình”.

Ðỗ Hân Ngôn nói với Tín Nhi: “Ngươi về quán trọ trước đi”. Nói xong cầm tay nải lên thuyền.

Cô nương chèo thuyền khoảng mười sáu, mười bảy tuổi, thân hình mảnh mai, mặc một chiếc áo ngắn màu xanh, váy đồng màu. Quanh năm sống nơi sông nước mặt cô cũng sạm đen thô ráp, phía dưới tóc mái hỉ nhi là đôi mắt sáng màu đen rạng rỡ có thần.

Cô nương chèo thuyền cười với Ðỗ Hân Ngôn, mũi nhăn lại, giống như mặt hồ lăn tăn gợn sóng. Cô gái huơ tay ra hiệu cho Ðỗ Hân Ngôn ngồi yên. Hóa ra là một cô gái câm. Ðỗ Hân Ngôn vốn định dò la chút ít tin tức từ cô gái chèo thuyền, gặp tình huống này trong lòng không nén được vài phần tiếc nuối.

Cô nương chèo thuyền chống sào, con thuyền lao vút đi như mũi tên về phía bãi lau. Khi cô nhấc cây sào, tay áo tuột xuống, lộ ra cổ tay trắng nõn, rõ ràng là vì ít dãi nắng dầm mưa.

Cô gái còn đeo cả mấy cái vòng bạc ở cổ tay. Ðỗ Hân Ngôn bất giác nhớ tới dáng hình Thẩm Tiếu Phi biến thành cô gái hái sen bên bờ Cừ Phù, khuôn mặt bỗng thoáng một nét cười. Cho dù là cô gái hái sen hay cô gái miền sông nước, chàng cảm thấy vẻ tự nhiên này hơn hẳn những tiểu thư quý tộc diễm lệ chốn kinh thành.

Phía xa xa từng đàn cò trắng và chim chóc bay lượn, đất trời yên ắng chỉ còn lại tiếng gió, Ðỗ Hân Ngôn bỗng cảm thấy nhẹ nhõm như đang ở biệt viện trên núi Lạc Phong. Chàng đứng sau cô gái chèo thuyền, bất ngờ buông một câu hỏi: “Cô nương tên gì?”.

Cô nương chèo thuyền cũng không quay đầu lại. Ðỗ Hân Ngôn khẽ nhún vai, xem ra đúng là một cô gái câm.

Cây sào trúc đưa qua đưa lại, con thuyền nhỏ lướt nhẹ như bay trên dòng nước. Lòng sông lúc rộng lúc hẹp, thuyền nhỏ đi giữa bờ lau san sát, quay lại đã chẳng thấy bờ. Những chiếc lá héo rũ của mùa đông năm ngoái còn chưa kịp rụng hẳn, những chiếc lá non đã trổ nhánh đâm cành. Những đám lau sậy này không biết đã ăn sâu bám rễ bao nhiêu năm nay, rậm rạp như hai bức tường ăn cả vào dòng nước. Nhìn qua, con thuyền nhỏ như lao vào lau sậy, nhưng chỉ chống cây sào một cái, con thuyền khéo léo rẽ vào một dòng nước mới.

Cô nương chèo thuyền có vẻ rất thẹn thùng, thỉnh thoảng lại mím môi quay lại nhìn trộm, lần nào cũng gặp phải ánh mắt tươi cười của chàng công tử áo xanh. Sắc hồng thoáng qua gò má, cô lại thẹn thùng quay đi, nhịp thuyền càng cuống, thuyền trôi càng nhanh.


--- ------ ------
(8) Người đời sau dùng tích “Chó cắn Lã Ðộng Tân” để chỉ bản thân vô duyên vô cớ gặp phải những chuyện làm ơn mà mắc oán.

(9) Chữ phẩm: 品.

Giao diện cho điện thoại

Ngào tạo:
Cập nhật:

Chia sẻ